...... ...  

 

 

Biết đủ thường vui

 

Phan Minh Đức

 

Thời Đức Phật còn tại thế, có một vị vua phát tâm  hành pháp bố thí, mở kho ban phát của cải cho nhân dân. Bấy giờ Đức Phật quán sát nhân duyên biết có thể độ nhà vua, Ngài bèn hóa thành một người dân nghèo đến xin bố thí. Người nghèo tâu: - Xin bệ hạ xót thương ban cho kẻ hèn một ít của cải để xây cất nhà cửa.

Nhà vua ra lệnh lấy cho ông một ít châu báu đủ để xây dựng một tòa nhà. Người nghèo nhận lấy và bái tạ nhà vua, nhưng chưa ra khỏi hoàng cung ông đã quay trở lại:

- Cúi xin bệ hạ rộng lòng thương bố thí cho kẻ hèn này thêm một ít. Bấy nhiêu của cải chỉ đủ xây nhà, nếu dùng để cưới vợ nữa thì không đủ. Thật khổ khi có nhà cửa mà chỉ sống cô độc một mình không có người sớm hôm bầu bạn.

Nhà vua bèn ban cho người nghèo kia thêm ít châu báu. Sau khi nhận lãnh châu báu, người nghèo ra về, nhưng không bao lâu thì quay trở lại, tâu với vua:

- Thưa bệ hạ, bấy nhiêu của cải đã đủ để xây nhà, cưới vợ. Nhưng sau đó kẻ nghèo này không biết lấy gì để sống, lấy gì để nuôi vợ nuôi con. Xin bệ hạ mở lượng biển trời ban cho thần thêm một ít châu báu nữa để tậu ruộng đất, trâu bò, có thế thần mới làm ra của cải nuôi sống gia đình.

Nhà vua nghĩ người dân nghèo nói cũng phải, thôi thì đã giúp thì giúp cho trót, bèn ra lệnh bố thí châu báu thêm cho ông. Người dân nghèo cảm tạ và ra về, được một lúc ông quay lại xin trả nhà vua tất cả số châu báu đó. Nhà vua ngạc nhiên hỏi tại sao, ông đáp:

- Kẻ hèn cứ nghĩ mãi, nếu có con trai con gái thì phải dựng vợ gả chồng cho chúng, chắc số châu báu kia không đủ để chi dùng. Thôi thì thần xin trả lại.

Nghe người cùng dân than thở, nhà vua lại ra lệnh ban thêm châu báu cho ông. Nhưng cầm số châu báu trong tay, người cùng dân lại đăm chiêu suy nghĩ, ông bước đi rồi quay trở lại tâu với nhà vua:

- Mọi người đều mong cầu của cải để sinh sống. Nhưng xét cho kỹ, con người sống có bao lâu, vạn vật vô thường sớm còn tối mất, sống hôm nay chưa chắc sống đến hôm sau. Tài sản, sự nghiệp, vợ đẹp con xinh, gia duyên càng nhiều càng buộc ràng, bận bịu, càng khổ lụy thêm thôi. Của cải dù chất cao như núi cũng không ích gì, sao bằng dứt tâm tham cầu, học đạo vô vi, như thế mới có thể tự tại giải thoát, an lạc. Vì suy nghĩ như thế, cho nên thần không nhận lấy số của cải nhà vua ban.

Nhà vua nghe người dân nghèo nói bỗng nhiên khai ngộ. Lúc bấy giờ người dân nghèo hiện lại thân Phật nói pháp cho vua nghe. Sau thời pháp nhà vua đắc quả vị Tu đà hoàn…

Những điều cầu xin của người dân nghèo trong câu chuyện trên cũng chính là mong muốn chung của mọi người trên thế gian này, đó là những tham muốn nhà cửa, của cải, vợ đẹp con xinh, ăn ngon mặc đẹp, các thú vui hưởng thụ v.v…Khi đã có rồi lại muốn có thêm, khi đã có thêm rồi lại muốn có thêm nhiều hơn nữa.

Vì nhu cầu cuộc sống, con người phải tạo ra của cải, nhưng tham muốn không cùng của con người đã gây ra bao điều hệ lụy, khổ đau cho bản thân và xã hội. Con người không bao giờ thấy đủ, không bao giờ thỏa mãn nên không ngừng chạy đuổi, tìm cầu, nô lệ cho lòng tham và dục vọng để rồi lãng quên hoặc đánh mất mục đích chính của mình là xây dựng một đời sống an vui, hạnh phúc.

Nhu cầu thật sự của con người là hạnh phúc chứ không phải thỏa mãn dục vọng. Nhưng do người ta nhận thức sai lầm rằng hạnh phúc của con người là khi dục vọng được thỏa mãn, trong khi không bao giờ thỏa mãn được tham dục, và chính điều đó đã tạo ra biết bao phiền não khổ đau cho con người. Cuộc đời mong manh ngắn ngủi, tạm bợ vô thường, sớm còn tối mất nào ai biết trước, niềm vui có được không bao nhiêu nhưng nỗi lo lắng, thất vọng, khổ đau chi phối cả cuộc đời. Càng nhiều tham muốn, dục vọng thì càng nhiều phiền não khổ đau, đến lúc nhắm mắt xuôi tay trở về cùng cát bụi mới hay những gì đã trải qua như giấc mộng. Vậy mà ai cũng bỏ thời gian, công sức, có khi cả cuộc đời lao tâm khổ trí làm vô số chuyện: tốt có, xấu có; hay có, dở có; thiện có, ác có, tạo ra duyên nghiệp buộc ràng cho mình và cho người khác, làm nên những vòng xoáy cuộc đời nhấn chìm an lạc, hạnh phúc mà lẽ ra chúng ta có được. Có khi tham muốn, khát vọng chưa thỏa mãn thì đã lìa bỏ cuộc đời, bởi đời sống vẫn vô thường, tai nạn, bệnh tật, sống chết là điều không ai biết trước.

Kinh Pháp Cú Thí Dụ có kể câu chuyện như sau: Thuở Đức Phật an trú tại thành Xá Vệ, có một người Bà la môn giàu có tuổi gần tám mươi. Tuy ở tuổi gần đất xa trời nhưng suốt ngày ông mải mê đầu cơ tích trữ gia sản, xây dựng nhà cửa cho con cháu. Ông cất nhà trên, nhà dưới, nhà đông, nhà tây, nhà nghỉ mát, nhà kho…nhiều dãy, nhiều gian cao to đồ sộ.

Một hôm trong lúc người Bà la môn chỉ đạo xây nhà, Đức Phật dùng Phật nhãn quán sát thấy mạng ông sắp tận, không sống qua khỏi ngày hôm đó, thế mà ông nào hay, cứ mãi lo toan tính, khổ trí lao tâm, nhọc nhằn thân xác. Đức Phật bèn cùng tôn giả A Nan đi đến nhà ông, Đức Phật thăm hỏi:

- Ông lão có vất vả lắm không? Xây dựng nhiều nhà cửa như thế dùng để làm gì?

Người Bà la môn đáp:

- Nhà trước để đãi khách, nhà sau để ở, hai dãy bên Đông, bên Tây dành cho con cháu và tôi tớ, kho lẫm để cất chứa lúa gạo, chuồng trại để nuôi gia súc, nhà mát để nghỉ mùa Hè, nhà kín để nghỉ mùa Đông…

Đức Phật nói:

- Nghe tiếng ông đã lâu mà nay mới có dịp gặp mặt. Tôi có một bài kệ có thể mang đến nhiều lợi ích cho ông. Mời ông nghỉ tay cùng ngồi nói chuyện.

Người Bà la môn đáp:

- Tôi đang bận lắm, không thể ngồi trò chuyện với Ngài. Xin hẹn hôm khác đến cùng nhau đàm luận. Còn bài kệ mang đến lợi ích, xin hãy ban cho.

Bấy giờ Đức Phật bèn nói kệ: Có con cái, tài sản/Người mê phải rộn ràng/Mình còn không thật có/Lại lo của và con/Nóng nên ở chỗ này/Lạnh nên ở chỗ kia/Người mê lo tính mãi/Không tường lẽ đổi thay/Kẻ mê muội phàm phu/Tự cho mình là trí/Mê mà tưởng hơn trí/Đó thật là vô minh.

Sau khi Đức Phật đi rồi, người Bà la môn lại tiếp tục công việc dựng nhà, không may bị cây rớt trúng mà chết. Quả thật là: “Tham vọng leo thang không dừng nghỉ, vô thường chợt đến, ôm hận đi!”.

Trong kinh Di Giáo, Đức Phật dạy: “Người sống biết đủ, tuy nằm trên đất vẫn thấy an lạc; người sống không biết đủ, dù ở thiên đường cũng không vừa ý”. Đức Phật và các đệ tử của Ngài gia tài chỉ có ba y và một bình bát mà vẫn an lạc, tự tại. Bởi thế mới biết rằng sở dĩ con người khổ là vì có quá nhiều lòng mong cầu, tham muốn. Chỉ khi dứt trừ tham dục, dừng lại những tạo tác do mê lầm mới cắt đứt được những phiền não, hệ lụy trong cuộc đời, chấm dứt vòng luân hồi lẩn quẩn vì nghiệp duyên ràng buộc, khi đó mới tìm thấy an lạc hạnh phúc thật sự trên cõi đời này như kinh Bát Đại Nhân Giác đã dạy: “Tham muốn nhiều là khổ, bao sinh tử nhọc nhằn đều từ tham muốn mà ra, nếu ít tham muốn, thực hành vô vi thì thân tâm được tự tại”.

 

 

Trở về trang bài vở

 

 

 

Trở về trang nhà